HIẾU RÕ HỆ TIÊU HÓA CỦA BÉ

Trong những năm đầu đời, hệ tiêu hóa của bé còn rất non yếu trong khi nhu cầu dinh dưỡng lớn cho sự tăng trưởng và phát triển toàn diện (thể chất, trí tuệ…), đòi hỏi hệ tiêu hóa làm việc với hiệu suất cao hơn người lớn. Vì vậy, nắm vững những đặc điểm ở trẻ nhỏ có thể giúp cha mẹ phòng ngừa và xử trí hiệu quả những vấn đề tiêu hóa xảy ra với bé. Đường tiêu hóa cũng là hàng rào bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây bệnh và dị ứng.

Đặc điểm hệ tiêu hóa ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Hệ tiêu hóa có vai trò tiếp nhận, tiêu hóa, hấp thu thức ăn để chuyển hóa thành chất dinh dưỡng, cung cấp năng lượng cơ thể bé mỗi ngày và bài tiết các chất cặn bã ra khỏi cơ thể.
 
Với trẻ sơ sinh (28 ngày đầu),
Thức ăn duy nhất của bé là sữa mẹ hoặc sữa thay thế. Cho bú mẹ ngay sau sinh, để tận hưởng nguồn sữa non chứa nhiều năng lượng và kháng thể tự nhiên

Với trẻ nhũ nhi (02 – 12 tháng), hệ tiêu hoá bé đang dần hoàn thiện, 4-6 tháng bé bắt đầu có khả năng tiêu hoá tinh bột, các thực phẩm khác ngoài sữa. Cho bé ăn dặm ở tháng thứ 6, bắt đầu từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều.
 
Hành trình của thức ăn trong đường tiêu hóa Thực phẩm mất khoảng 18 đến 48 giờ để đi qua toàn bộ đường tiêu hóa, thông qua một loạt các co thắt của các cơ đường tiêu hóa và được pha trộn với các enzyme tiêu hóa để phân giải thức ăn.
 

Miệng: Là nơi thức ăn được nhai và cũng là nơi mà quá trình tiêu hóa thật sự bắt đầu để phân hủy thức ăn thành những mảnh nhỏ.

Răng: Cắt, xé, nhai, nghiền thức ăn.Trẻ bắt đầu mọc răng từ 5 - 6 tháng cho đến 24 tháng thì hết mọc răng sữa. Từ 6 tuổi trở đi, răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn. Để hàm của trẻ hình thành và phát triển đúng, cần cho trẻ nhai thức ăn cứng khi trẻ mọc đủ răng. Khi ăn thức ăn cứng, trẻ sẽ nhai chậm, tạo điều kiện nước bọt có chứa men tiêu hóa được trộn đều với thức ăn. Ngoài ra xương hàm sẽ phát triển làm cho 2 hàm răng cắn khớp vào nhau tốt.

Lưỡi: Di chuyển thức ăn đến các loại răng khác nhau, trộn thức ăn với nước bọt sau đó cuộn thức ăn hướng về phía cổ họng khi chúng ta đã sẵn sàng để nuốt; Lưỡi tương đối to, rộng và dày ở lứa tuổi sơ sinh và bú mẹ; đặc điểm này làm cho trẻ mút có hiệu quả hơn.

 

Tuyến nước bọt: Tăng tiết ngay từ khi thức ăn được đưa vào hoặc trước đó qua mùi, hình ảnh của thức ăn, nước bọt làm ẩm thực phẩm và chứa enzyme amylase để bắt đầu quá trình tiêu hóa tinh bột. Tuyến nước bọt của trẻ đến tháng thứ 3 - 4 mới phát triển hoàn thiện. Đến tháng thứ 4 - 5, nước bọt trẻ tiết ra nhiều do có sự kích thích của mầm răng. Cần đặc biệt chú ý vệ sinh khoang miệng cho bé.
Họng: Để nuốt thức ăn. Thức ăn được nhai và trộn lẫn với nước bọt trở nên mềm, nhão, lưỡi sẽ đẩy thức ăn ra phía sau miệng để vào họng. Đây là hành động do sự điều khiển theo ý muốn, vì vậy những trẻ biếng ăn, ngậm thường tắc nghẽn ở bước này! Khi thức ăn đi vào họng thì quá trình nuốt trở thành một phản xạ tự động và không thể dừng lại được. Khi đó lưỡi gà sẽ gập lại để che kín với đường thở, giúp ngăn không cho thức ăn đi vào đường thở.
 
Nếu trẻ cười hay nói trong khi ăn hoặc uống làm nắp thanh quản không đóng lại kịp thời được, thức ăn hoặc nước sẽ chạy lên mũi hoặc đi vào đường thở gây ho, sặc rất nguy hiểm.

Thực quản: Là một ống cơ dẫn từ miệng đến dạ dày, dài khoảng 25 cm. Khi thức ăn đi vào, các cơ trơn ở thành thực quản sẽ thay phiên nhau co – dãn để tạo ra những chuyển động dạng sóng (hay còn gọi là nhu động), đẩy thức ăn đi sâu xuống dần phía dưới, bất kể tư thế của cơ thể dù là đang ngồi, đang nằm hoặc đang lộn ngược. Tính theo chiều dài cơ thể, thì thực quản của trẻ em dài nhưng mỏng hơn người lớn. Cơ thắt dưới thực quản của trẻ chưa hoàn thiện, thường xuyên mở ra, vì thế trẻ dễ bị nôn trớ.
 
Dạ dày: Là nơi lưu trữ, nhào trộn và tiêu hóa thức ăn. Dạ dày tiết ra dịch vị (do tuyến vị trong dạ dày tiết ra) bao gồm các thành phần như enzyme pepsin và axit chlohydrit (HCl) giúp tiêu hóa thức ăn, tiêu diệt vi khuẩn. Thời gian sữa mẹ ở dạ dày là 2 - 2,5 giờ, sữa bò là 3-4 giờ. Dịch tiêu hóa ở trẻ ít hơn người lớn, lượng bài tiết tăng dần theo tuổi. Do đó trẻ dễ có hiện tượng bị nôn trớ sau khi ăn. Những trẻ sơ sinh có tình trạng co thắt môn vị sẽ gây nôn nhiều.

Ruột non: Quá trình tiêu hóa tại ruột non tiêu hóa được 80% chất đạm, tinh bột và chất béo.Độ dài ruột của trẻ sơ sinh gấp 7-8 lần chiều dài cơ thể, ở người lớn gấp 4-5 lần. Do thành ruột ở trẻ mỏng, nếu đường tiêu hóa bị nhiễm trùng thì chất độc dễ xâm nhập vào máu, gây ngộ độc.

 
Ruột già: Ruột già của trẻ di động, gắn kết kém với với thành sau bụng nên vị trí ruột thừa không cố định, chẩn đoán viêm ruột thừa ở trẻ em khó hơn người lớn. Trực tràng tương đối dài, niêm mạc lỏng lẻo, do đó khi bị lỵ, ho gà dễ bị sa xuống.
 
Vi khuẩn đường ruột và phân của trẻ
Đặc điểm hệ vi khuẩn đường ruột trẻ em.

- Sau khi sinh, dạ dày và ruột trẻ sơ sinh hoàn toàn vô trùng trong khoảng 10 - 12 giờ với điều kiện mẹ không bị nhiễm trùng ối. Sau đó vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua miệng, qua đường hô hấp và đường trực tràng.
- Trong sữa mẹ có đường lactose có tác dụng tốt đối với trực khuẩn bifidus và ức chế vi khuẩn E.coli. Tác dụng tích cực của vi khuẩn có lợi là làm thành hàng rào ngăn các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập, làm tăng quá trình tiêu hóa chất đạm, béo và bột đường, tham gia vào sự tổng hợp vitamin nhóm B, vitamin K.
- Khi hệ vi khuẩn đường ruột bị rối loạn có thể làm tăng các sản phẩm độc, ức chế hoạt động của các men tiêu hoá.
Phân của trẻ em và sự thải phân:

- Phân su: Trẻ đi tiêu từ 4 - 6 lần/ngày trong 2 - 3 ngày đầu mới sinh. Phân su đã có từ tháng thứ 4 của bào thai và bài tiết ra ngoài. Tính chất phân su: màu xanh thẫm, dẻo, không có mùi. Giai đoạn đầu phân su không có vi khuẩn.

- Công thức sữa và phân trẻ em: Sữa mẹ với thành phần đạm Whey dễ tiêu hóa, có chứa vi khuẩn có lợi, kèm chất xơ GOS nên giúp trẻ nhỏ dễ tiêu hóa và hấp thu. Về công thức sữa, các nghiên cứu gần đây cho thấy công thức giảm lactose giúp giảm tỉ lệ lớn các rắc rối ở đường tiêu hóa như táo bón, tiêu chảy, nôn trớ, đầy hơi, quấy khóc… Ngoài ra, hỗn hợp chất béo đặc biệt không chứa dầu cọ giúp dễ tiêu hóa, gia tăng hấp thu chất béo và canxi, làm phân mềm.

Các thành phần dinh dưỡng tốt cho hệ tiêu hóa
  • Đạm Whey chất lượng cao và được thủy phân một phần: giúp trẻ dễ tiêu hóa và hấp thu hơn.
  • Hỗn hợp đường bột kép: giảm lactose, giúp hấp thu đường hiệu quả, giảm các rắc rối tiêu hóa.
  • Hỗn hợp chất béo đặc biệt không chứa dầu cọ: giúp dễ tiêu hóa, gia tăng hấp thu chất béo và canxi, làm phân mềm.
  • Chất xơ thực phẩm: có trong rau quả, các loại khoai, đậu, rong biển. Chất xơ thực phẩm cuốn những cặn bã thải từ thức ăn và làm tăng số lượng phân tiêu.
 

 

  • Đường Oligosaccharid: làm tăng những vi khuẩn có lợi trong ruột và cải thiện chức năng ruột. Đường Oligosaccharid có nhiều trong đậu nành, hành tây, tỏi, bắp, chuối, mật ong…

 

Dấu hiệu nhận biết trẻ có hệ tiêu hóa khỏe mạnh hay đang trục trặc?
Tiêu hóa khỏe mạnh:
Nếu đường ruột khỏe mạnh, sau khi tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng sẽ bài tiết được hoàn toàn những chất cặn bã (đi tiêu đều đặn và phân mềm, sệt). Trẻ có hệ tiêu hóa khỏe mạnh cũng sẽ bú/ăn dễ dàng, khỏe mạnh và tăng trưởng tốt.

Tiêu hóa “trục trặc”: Nếu chức năng của ruột kém thì bé sẽ chậm tiêu hóa, chướng bụng, đầy hơi, nôn trớ, ăn khó tiêu, táo bón (phân không thải ra ngoài được) hoặc tiêu chảy, đi phân sống (phân thải ra mà chưa tiêu hóa được hoàn toàn), quấy khóc khi ăn, biếng bú/ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, …

 
 
Đau quặn bụng ở trẻ dưới 3 tháng tuổi Nguyên nhân khóc ở trẻ chưa biết nói rất khó đoán biết, trong đó phổ biến là cơn đau quặn bụng. Làm sao nhận biết được đau bụng nào là không nguy hiểm hay nguy hiểm cần xử trí khẩn cấp là hết sức quan trọng.
Đặc điểm cơn đau bụng nhũ nhi (colic)
Đau theo chu kỳ, thường vào buổi chiều tối, trẻ quấy khóc không dỗ được, kéo dài hơn 3 giờ mỗi ngày, 3 ngày mỗi tuần, và tiếp tục hơn 3 tuần ở những trẻ nhũ nhi dưới 3 tháng.Trẻ không dỗ được theo những cách thông thường như cho bú, cho ợ hơi, thay tã, âu yếm, vỗ về hoặc đung đưa... trẻ tiêu xong có thể hết đau. Thường không kèm theo ói mửa, tiêu chảy, hay lên cân kém. Đau bụng thường kết thúc vào tháng thứ 4 hoặc chậm nhất là tháng thứ 5.

Làm sao để nhận biết những tiếng khóc “lành tính” không quá lo ngại ở trẻ nhũ nhi?
Những đợt khóc khoảng 1giờ30 phút/ngày vào 15 ngày tuổi, hơn 2 giờ trong 1 tháng, dưới 3 giờ lúc bé 6 tuần, trước khi giảm xuống còn 1 giờ lúc 3 tháng, đến 4-5 tháng hết hẳn. Bé vẫn háu bú, lên cân tốt, không kèm theo những dấu hiệu khác như trớ, nôn ói, ho, tư thế vẹo cổ, đi cầu ra máu, hăm tã, nổi mề đay…Nếu bé có kèm hăm tã, tiêu chảy, đi phân sống, nguyên nhân có thể do thiếu men lactase để tiêu hóa đường lactose hoặc có thể do dị ứng với đạm sữa bò (CMA), nên đưa trẻ đi gặp bác sĩ ngay.
 
Những bệnh nào cũng thường gây cơn đau bụng ở trẻ nhũ nhi cần đưa bé đến khám bác sĩ lập tức để xử trí kịp thời?
Trào ngược dạ dày – thực quản: Trẻ có dấu hiệu khóc và dãy dụa trong hoặc ngay sau khi bú, ngừng bú vào đúng giữa bữa ăn và/hoặc có tư thế uốn cong người để giảm đau lúc bú bình, kèm ợ lặp đi lặp lại, da xanh tái.

- Lồng ruột: Trẻ kịch phát cáu kỉnh, khóc thét, nôn, và đi cầu ra máu xảy ra ở trẻ từ 2 tháng đến 2 tuổi, nhất là lúc trẻ được 9 tháng.Một số trẻ chỉ có biểu hiện ngủ lịm. Đây là bệnh lý nguy hiểm, cần được xử lý cấp cứu.

- Thoát vị bẹn: Trẻ có thể kèm bỏ bú, nôn ói, bứt rứt, quấy khóc, quan sát có thể thấy một khối phồng tại vùng bẹn bìu ở bé trai hoặc ở gần âm hộ của bé gái. Khối phồng này thường xuất hiện to hơn khi trẻ ho, khóc, rặn khi đi tiêu. Lúc trẻ nghỉ ngơi hay nằm thì khối phồng xẹp đi, vùng bẹn của trẻ trở lại như bình thường. Những trường hợp này cần đưa bé đến khám bác sĩ để có hướng dẫn chăm sóc và theo dõi phù hợp.
 
Xử trí gì khi bé có cơn đau bụng “lành tính”?

- Ẵm bé lên, đung đưa nhẹ nhàng, làm dịu đau cho bé bằng cách xoa bụng bé, đưa đi dạo bằng xe, cho nghe nhạc…Nên xoa bụng bé nhẹ nhàng hình vòng tròn theo chiều kim đồng mỗi ngày 3 - 4 lần để giúp lưu thông tiêu hóa cho trẻ.
- Giảm thiểu việc nuốt hơi bằng cách: cho bé bú đúng tư thế và giúp bé ợ hơi sau bú.

- Cho bé bú đúng tư thế. Luôn giữ cho đầu bé ở cao hơn so với bụng, sữa sẽ trôi xuống đáy dạ dày, còn không khí sẽ ở phía trên và bé dễ dàng ợ ra hơn. Nếu bé bú bình cần nâng bình sữa hơi dốc để sữa ngập núm vú bình (mực sữa luôn nằm trên lỗ núm vú) để tránh nuốt khí vào dạ dày.
- Giúp bé ợ hơi sau khi bú. Vác bé đứng áp vào vai, nằm sấp trên cánh tay/ đùi, hoặc ngồi với tay đỡ sau lưng và đầu bé. Cũng có thể đặt bé nằm ngửa và nhẹ nhàng giúp bé tống hơi bằng động tác đạp chân như đạp xe đạp.


Nôn trớ: là hiện tượng thức ăn trong dạ dày bị đẩy lên thực quản rồi trào ra miệng
Nôn trớ rất hay gặp ở trẻ nhỏ do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, dạ dày ở tư thế nằm ngang trong khi chế độ ăn chủ yếu là sữa ở dạng lỏng. Nôn trớ sẽ giảm dần khi trẻ lớn và thường sẽ hết lúc trẻ được 12 tháng tuổi. Một số trường hợp nặng hoặc do bệnh lý cần xử trí thích hợp để phòng tránh mất nước-điện giải, biếng ăn, suy dinh dưỡng, khò khè…

Phải làm gì khi trẻ trớ, làm sao để biết trẻ trớ sinh lý để không quá lo ngại?
1. Trớ sinh lý: xảy ra nhiều ở 3 tuần tuổi, giảm dần và hết khi bé được 12 tháng tuổi, lượng chất trớ ít, thường là sữa mới uống, vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2-3 lần, vẫn bú khỏe, lên cân tốt. Không kèm các biểu hiện khác như: buồn nôn/nôn, dễ bị kích thích, khóc quấy, uốn cong người (tư thế Sandifer), ho từng cơn, khò khè, khàn tiếng, thiếu máu, chậm lớn.
Nguyên nhân chủ yếu do dạ dày – thực quản phát triển chưa hoàn thiện ở trẻ nhỏ, dễ tạo điều kiện cho sữa trào ngược lên trên, nhất là khi trẻ nằm đầu thấp, khi ho, vặn mình hay khóc, hoặc phương pháp cho bú sai: bú no quá, bú các cữ gần nhau quá, thay đổi sữa hoặc pha sữa không đúng công thức, lỗ núm vú cao su to hoặc nhỏ quá, hoặc tư thế cho bú không đúng làm cho bé nuốt quá nhiều hơi trong khi bú.

2. Nếu trớ kèm một trong các dấu hiệu khác: buồn nôn/ nôn, dễ bị kích thích, khóc, quấy, uốn cong người (tư thế Sandifer), ho từng cơn, chậm lớn, cần đưa bé đi khám để có chẩn đoán và điều trị thích hợp, vì có thể do:

Trẻ không dung nạp/ dị ứng đạm sữa bò (CMA): hàm lượng cao chất đạm chưa được xử lý trong sữa bò có thể làm trẻ khó tiêu hóa. Nếu kèm theo các triệu chứng như đi phân lỏng (có thể lẫn máu), nôn, hay đau bụng, hoặc dấu hiệu dị ứng ngoài da, tăng cân chậm, cần đưa bé đi khám. Bé có thể cần được thay thế bằng công thức sữa đậu nành hoặc sữa có đạm thủy phân.
Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD) có hoặc không kèm viêm thực quản: Trớ kèm ợ lặp đi lặp lại, trớ có thể xảy ra một thời gian lâu sau bữa ăn/ bú, da xanh tái, các cơn khóc xảy ra trong hoặc ngay sau khi ăn, ngừng bú vào đúng giữa bữa ăn và/hoặc có tư thế uốn cong người (tư thế Sandifer) để giảm đau lúc bú bình.

Nôn do dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa:Hẹp phì đại môn vị là dị tật thường gặp, gây hẹp, tắc chỗ nối giữa dạ dày và ruột non. Trẻ trai thường bị hơn, sau khi sinh, trẻ vẫn bú mẹ và đi tiêu bình thường, khoảng 3-4 tuần sau thì xuất hiện nôn, nôn liên tục nhiều lần sau khi ăn, nôn vọt thành tia, chất nôn là sữa cũ (đông vón) do đọng lâu trong dạ dày. Nôn kéo dài làm cho trẻ sụt cân nhanh, bụng xẹp, đi phân ít, tiểu ít mặc dù trẻ vẫn háu bú. Bệnh cần phải phẫu thuật.

Nôn do bệnh tật: Hay gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn tiêu chảy, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não, lồng ruột, tắc ruột, viêm ruột hoại tử...: trẻ nôn đột ngột và kèm theo các triệu chứng đặc biệt của từng bệnh.

Tiêu chảy:
Làm thế nào để biết nguyên nhân tiêu chảy?
Trẻ có thể đi tiêu 5-10 lần trong một ngày sau mỗi cữ bú, phân sệt hoặc hơi tướt, màu vàng sậm, trẻ tăng cân tốt; trường hợp này không gọi là tiêu chảy.Nếu trẻ bú không đủ, phân sẽ có màu xanh lẫn nước nhưng lượng ít.

Tiêu chảy do nhiễm siêu vi trùng: Nếu bé bị tiêu phân lỏng, không đàm máu thì thường do nhiễm siêu vi trùng, bệnh kéo dài trung bình 5-7 ngày, có thể kèm sốt nhẹ, nôn, quấy khóc… Rotavirus là siêu vi trùng gây nhiễm khuẩn dạ dày ruột cấp rất thường gặp ở trẻ nhỏ trong 5 năm đầu đời, đặc biệt là lứa tuổi từ 3 tháng đến 2 tuổi. Tiêu chảy phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải.

Tiêu chảy do nhiễm trùng: thường do trẻ ăn phải thức ăn không vệ sinh, nhiễm bẩn hoặc có thói quen ngậm tay, ngậm đồ chơi,… Trẻ thường kèm đau quặn bụng, đi cầu lỏng nhưng không phải đi xối xả toàn nước, phân sẽ có mùi hôi có thể kèm theo máu và chất nhầy.

Tiêu chảy sau khi viêm ruột, hoặc do kém hấp thu đường lactose, dị ứng đạm sữa bò: trẻ có thể cải thiện khi được bú sữa công thức loại bỏ lactose hoặc công thức đạm thủy phân.
Cách xử trí trẻ bị tiêu chảy?

Cần đưa trẻ đến khám tại cơ sở y tế khi trẻ có một trong các dấu hiệu sau: sốt cao liên tục, co giật, nôn ói nhiều, không ăn uống được, chướng bụng, tiêu phân có máu. Điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải được bù nước và điện giải, có thể bằng nước Oresol, phải tuân thủ hướng dẫn pha Oresol. Tuyệt đối không được tự ý sử dụng các loại thuốc cầm tiêu chảy, vì những loại thuốc làm giảm nhu động ruột làm phân không được thải ra ngoài.

Tiêu chảy đa phần là do nhiễm trùng ở đường ruột, tiêu phân lỏng cũng là cách bảo vệ cơ thể giúp thải trừ vi trùng, chất độc, nếu phân không bài xuất ra ngoài được, ứ lại trong ruột gây chướng bụng, viêm ruột, thậm chí làm tắc ruột, thủng ruột, tử vong.
 
Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy như thế nào?
Cho trẻ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng như lúc bình thường, không nên kiêng cữ hoặc thay đổi chế độ ăn của trẻ, nên cho trẻ ăn nhiều bữa hơn. Nếu trẻ bú sữa công thức cần cho trẻ tiếp tục bú với sữa được pha như bình thường, không được pha loãng hơn.Nên thay thế tạm thời bằng loại sữa không có đường Lactose trong khoảng 2 tuần.Cần tham vấn ý kiến bác sĩ khi muốn đổi sữa cho trẻ.

Trẻ quấy khóc, đầy hơi và kèm theo dấu hiệu khác Nếu trẻ quấy khóc mà có kèm theo các dấu hiệu đáng lo như sau, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và có thể cân nhắc tạm thời chuyển sang chế độ ăn/ bú loại bỏ lactose:
- Nôn trớ, trào ngược thường xuyên, nôn ói và ho từng cơn.
- Tư thế uốn cong người (Sandifer)
- Trẻ kém phát triển, suy dinh dưỡng
- Trẻ có biểu hiện dị ứng ở da, đường hô hấp
- Xuất huyết dạ dày (tiêu phân đen…)
- Gia đình có người bị dị ứng
Táo bón
Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 rối loạn tạm thời hoặc là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau.Táo bón sẽ làm trẻ đi tiêu khó khăn, thậm chí gây cảm giác sợ đi tiêu, có thể gây chậm phát triển thể chất cho trẻ. Táo bón thường xảy ra vào 3 thời điểm: khi trẻ chuyển từ chế độ ăn lỏng sang ăn đặc, suốt thời gian tập ngồi bô/ bồn cầu và sau khi bắt đầu đi học.

Trẻ đi tiêu như thế nào gọi là táo bón?
Trẻ bị táo bón có số lần đi cầu ít hơn bình thường, đi cầu khó khăn (phân cứng hay phân to, đau, đôi khi có máu).Nếu tình trạng này kéo dài hơn 2 tuần được gọi là táo bón mạn (tính), trước thời gian này được gọi là táo bón cấp (tính).
Dấu hiệu nhận biết: Ở trẻ nhỏ táo bón, thường phân cứng, tròn nhỏ giống như các viên bi (giống phân dê), đi ít lần hơn thói quen trước đó, khóc khi rặn (uốn cong lưng, khép chặt mông). Trẻ mới biết đi sẽ lắc lư tới lui trong khi gồng chân và mông, uốn cong lưng, nhón gót, vặn vẹo, bồn chồn, có thể ngồi chồm hổm, hoặc có tư thế bất thường. Một số trẻ lớn, táo bón lại biểu hiện bằng hiện tượng són phân trong quần mà trẻ không hay biết.

Nguyên nhân táo bón ở trẻ nhỏ?
- Trẻ trong độ tuổi còn bú, nhất là những trẻ không bú mẹ sẽ dễ có nguy cơ bị táo bón do thành phần đạm trong sữa bò khó tiêu hóa hơn sữa mẹ, cộng với hệ tiêu hóa chưa thật hoàn thiện. Ngoài ra, lượng đạm nhiều quá mức trong một số loại sữa công thức, vượt quá ngưỡng hấp thu của ruột cũng góp phần làm trẻ táo bón do ruột phải tăng hấp thu nước để hòa tan lượng đạm thừa này.
- Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón. Những trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón.
- Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn thức ăn có quá nhiều chất béo, chất đạm và ít chất khoáng, thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn.
- Những nguyên nhân khác như: ruột già của trẻ quá to (bệnh phình đại tràng bẩm sinh làm trẻ không đi tiêu phân su trong 48 giờ đầu sau sinh, sau đó trẻ bón kéo dài kèm chướng bụng, hẹp hậu môn, rối loạn vận động ruột), bất thường thần kinh, bệnh nội tiết chuyển hóa, bệnh thần kinh- cơ… cần khám và điều trị bệnh tận gốc mới hết.
Phòng ngừa:

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày. Ở trẻ sau tuổi ăn dặm, việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cung cấp chất xơ, làm phân mềm hơn và đi tiêu dễ hơn. Các loại nước ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón. Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Khi nào đưa trẻ đến bệnh viện?
Khi trẻ bị táo bón, biện pháp tốt nhất là nên đưa bé đi khám và nghe tư vấn bác sĩ về việc điều trị táo bón. Ngoài ra, cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế khi có các dấu hiệu nghi ngờ sau:
- Đi ngay: khi bé đau bụng dữ dội
- Chưa đi tiêu sau hơn 24 giờ so với bình thường ở bé < 4 tháng tuổi
- Chướng bụng
- Nôn ói
- Chậm lớn
- Tiêu chảy có máu
- Chậm phát triển thần kinh
- Hậu môn bất thường
- Có bất kỳ dấu hiệu nào nghi ngờ táo bón do bệnh lý.

Xử trí táo bón tại nhà
Trẻ bú mẹ thường ít bị táo bón, nếu có, cần xem xét chế độ ăn của mẹ. Trẻ bú bình bị táo bón cần được kiểm tra và điều chỉnh cách pha sữa cho đúng công thức, cho trẻ uống nước đầy đủ hàng ngày, tập trẻ đi cầu hàng ngày đúng giờ.
 
  • Nếu trẻ chưa đáp ứng tốt, có thể dùng một số loại nước trái cây nguyên chất có tác dụng điều trị táo bón như mận, táo, lê. Những loại nước trái cây khác không có hiệu quả bằng các loại trên.
Tuổi Lượng loại nước trái cây
6 - 12 tháng tuổi 60 - 120ml/ngày
1 - 6 tuổi 120 - 180ml/ngày
 
  • Nếu trẻ bắt đầu ăn thức ăn đặc, phụ huynh có thể dùng bột ngũ cốc lúa mạch thay cho bột ngũ cốc gạo. Ngoài ra, cũng có thể thử các loại trái cây có nhiều chất xơ và rau (đã nghiền nát) như mơ, khoai lang, lê, mận, đào, đậu, bông cải hoặc cải bó xôi. Bạn có thể trộn nước trái cây (táo, mận, lê) với bột ngũ cốc, hoặc trái cây/ rau cải nghiền nát.
 
Khi áp dụng các biện pháp trên vẫn không cải thiện, có thể trẻ không dung nạp được với đạm sữa bò. Cân nhắc chuyển sang công thức sữa đạm thủy phân một phần, tuy nhiên nên tham khảo ý kiến bác sĩ.
Sau khi đã kiểm tra và khắc phục những yếu tố trên mà tình trạng táo bón của trẻ không cải thiện, nên đưa trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa nhi về tiêu hoá để phát hiện kịp thời những bệnh lý và điều trị.


Làm thế nào để cơ thể có thể tiêu hóa các nhóm thực phẩm khác nhau?
Các loại thực phẩm khác nhau như chất bột đường, chất đạm và chất béo – cần khoảng thời gian khác nhau để có thể được phân cắt, tiêu hóa và bài tiết ra khỏi đường tiêu hóa. Ngoài ra, ruột non cũng nhận được sự giúp đỡ từ tuyến tụy và gan, mặc dù hai bộ phận này không thực sự nằm trong đường tiêu hóa, nhưng cũng được coi là một phần của hệ thống tiêu hóa, vì chúng tiết ra dịch tiêu hóa. Túi mật cũng được coi là một phần của hệ thống tiêu hóa, vì mật được lưu trữ trong túi mật, và khi thức ăn đến ruột non, nó được tiết vào ruột để giúp hòa tan chất béo. Các chất dinh dưỡng từ ruột non đi vào máu, đến các bộ phận, cơ quan của cơ thể, nơi chúng được lưu trữ hoặc thay đổi thành một dạng khác. Chất đạm đi đến tất cả các bộ phận cơ thể để giúp xây dựng các tế bào, trong khi chất bột đường được chuyển hóa thành các loại đường đơn giản và được lưu trữ trong gan, nơi nó có thể được sử dụng để làm năng lượng. Chất béo đi đến các trung tâm lưu trữ khác nhau trên khắp cơ thể.
 
 
/